Bước tới nội dung

Súng máy Lewis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Súng máy Lewis
LoạiSúng máy hạng nhẹ
Nơi chế tạoHoa Kỳ (thiết kế)
Vương quốc Anh
Lược sử hoạt động
Phục vụ1914–1953
Sử dụng bởiXem tại § Users
Trận
Lược sử chế tạo
Người thiết kế
Năm thiết kế1911
Nhà sản xuất
Giá thành62 bảng Anh vào năm 1918[3]
Giai đoạn sản xuất1913–1942
Số lượng chế tạo152.050 khẩu trong Chiến tranh Thế giới thứ hai
50.000 khẩu sử dụng cỡ đạn .30-06 Springfield
Các biến thểXem tại § Các phiên bản
Thông số
Khối lượng28 lb (13 kg)
Chiều dài50,5 in (1.283 mm)
Độ dài nòng26,5 in (673 mm)
Chiều rộng4,5 in (114 mm)

Đạn
Cơ cấu lên đạnVận hành bằng khí nén hành trình piston dài, khóa nòng xoay, khóa nòng mở
Tốc độ bắn500–600 viên/phút
Sơ tốc đầu nòng2.440 ft/s (744 m/s)
Tầm bắn hiệu quả880 yd (805 m)
Tầm bắn xa nhất3.500 yd (3.200 m)
Chế độ nạpHộp tiếp đạn dạng đĩa loại 47 viên hoặc 97 viên
Ngắm bắnĐầu ruồi và thước ngắm tăng cấp

Súng máy Lewis (hay Súng máy tự động Lewis hoặc Súng trường tự động Lewis) là một loại súng máy hạng nhẹ thuộc thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Được thiết kế riêng bởi một cá nhân tại Hoa Kỳ nhưng không được quân đội nước này chấp thuận, bản thiết kế sau đó đã được hoàn thiện và đưa vào sản xuất hàng loạt tại Vương quốc Anh,[4] rồi được binh sĩ thuộc Đế quốc Anh sử dụng rộng rãi trong suốt cuộc chiến. Súng có đặc điểm nhận dạng rất riêng biệt nhờ phần vỏ bọc tản nhiệt cho nòng súng (bên trong chứa một bộ tản nhiệt bằng nhôm có các cánh dọc kéo dài từ bệ khóa nòng đến đầu nòng để làm mát), cùng với hộp tiếp đạn dạng đĩa gắn ở phía trên lưng súng. Súng Lewis tiếp tục phục vụ cho đến khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc, đồng thời cũng được dùng phổ biến như một loại súng máy trên máy bay trong cả hai cuộc Chiến tranh Thế giới. Khi lắp trên máy bay, phần vỏ bọc tản nhiệt của súng hầu như luôn được tháo bỏ do luồng không khí khi bay đã cung cấp đủ khả năng làm mát.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Một mẫu súng tiền thân của súng máy Lewis, tích hợp các nguyên lý nền tảng làm cơ sở cho loại súng này, đã được thiết kế bởi Ferdinand Mannlicher.[5] Súng máy Lewis được phát minh bởi Đại tá Lục quân Hoa Kỳ Isaac Newton Lewis vào năm 1911, dựa trên những nghiên cứu ban đầu của Samuel Maclean.[6] Bất chấp nguồn gốc của nó, súng máy Lewis ban đầu không được quân đội Mỹ tiếp nhận, nguyên nhân nhiều khả năng xuất phát từ những bất đồng chính trị giữa Lewis và Tướng William Crozier, người đứng đầu Tổng cục Hậu cần (Ordnance Department).[7] Lewis đã trở nên nản lòng khi cố gắng thuyết phục Lục quân Mỹ chấp thuận thiết kế của mình, ông tuyên bố rằng mình đã "bị tát thẳng mặt bởi những lời từ chối đến từ những kẻ bất tài vô tri",[8] và sau đó đã giải ngũ.

Lewis rời Hoa Kỳ vào năm 1913 để sang Bỉ, nơi ông thành lập công ty Armes Automatique Lewis tại Liège nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất thương mại loại súng này.[9] Lewis đã hợp tác chặt chẽ với nhà sản xuất vũ khí của Anh là Công ty Birmingham Small Arms Limited (BSA) nhằm khắc phục một số khó khăn trong quá trình sản xuất vũ khí.[6] Người Bỉ đã mua một số lượng nhỏ súng máy Lewis vào năm 1913 sử dụng cỡ đạn .303 British, và vào năm 1914, BSA đã mua bản quyền để chế tạo súng máy Lewis tại Anh, điều này đã mang lại cho Lewis những khoản tiền bản quyền kếch xù và giúp ông trở nên rất giàu có.[8] Lewis cùng nhà máy của mình đã chuyển sang Anh trước năm 1914 để tránh nguy cơ bị tịch thu trong trường hợp nước Đức tiến hành xâm lược.[10]

Sản xuất

[sửa | sửa mã nguồn]

Sự bùng nổ của Chiến tranh Thế giới thứ nhất đã làm gia tăng nhu cầu đối với súng máy Lewis, và BSA bắt đầu tiến hành sản xuất mẫu súng này dưới định danh "Mẫu 1914" (Model 1914). Thiết kế này chính thức được phê duyệt để đưa vào trang bị vào ngày 15 tháng 10 năm 1915 dưới định danh "Súng máy Lewis, cỡ nòng .303" (Gun, Lewis, .303-cal.).[11] Không có khẩu súng máy Lewis nào được sản xuất tại Bỉ trong suốt cuộc chiến.[12] Toàn bộ việc chế tạo đều được thực hiện bởi hãng BSA ở Anh và Công ty Savage Arms ở Mỹ,[13] và mặc dù hai phiên bản này phần lớn là giống nhau, giữa chúng vẫn tồn tại đủ các điểm khác biệt để khiến các bộ phận không thể hoán đổi hoàn toàn cho nhau, dù vấn đề này đã được khắc phục vào thời điểm Chiến tranh Thế giới thứ hai diễn ra.[14]

Khác biệt lớn nhất giữa hai thiết kế là các vũ khí của BSA được thiết kế để sử dụng buồng đạn .303 British, trong khi các súng của Savage lại dùng buồng đạn .30-06 Springfield, điều này đòi hỏi phải có một số thay đổi ở hộp tiếp đạn, cơ chế nạp đạn, bệ khóa nòng, nòng súng, thoi tống vỏ đạn và hệ thống trích khí.[13] Dù vậy, Savage cũng có chế tạo các khẩu súng máy Lewis sử dụng cỡ đạn .303 British. Các phiên bản Mẫu 1916 và Mẫu 1917 đã được xuất khẩu sang Canada và Vương quốc Anh, và một số ít đã được cung cấp cho quân đội Mỹ, đặc biệt là lực lượng Hải quân.[13] Phiên bản Savage Mẫu 1917 nhìn chung được sản xuất theo cỡ đạn .30-06. Một số lượng súng loại này đã được cung cấp cho Vương quốc Anh theo chương trình Lend-Lease trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.[15]

Chi tiết thiết kế

[sửa | sửa mã nguồn]

Súng máy Lewis hoạt động theo nguyên lý trích khí. Một phần khí thuốc giãn nở khi bắn sẽ được trích ra từ nòng súng, đẩy piston về phía sau chống lại lực ép của một lò xo. Phía sau của piston được trang bị một chốt dọc; chốt này ăn khớp với một rãnh xoắn trên bệ khóa nòng, làm xoay khóa nòng khi nó tiến đến vị trí gần buồng đạn nhất. Cơ chế này cho phép ba vấu khóa ở phía sau khóa nòng khớp vào các hốc trong thân súng để khóa chặt bệ khóa nòng tại chỗ. Chiếc chốt này cũng mang theo một kim hỏa cố định nhô ra qua một lỗ hở ở mặt trước của khóa nòng, có nhiệm vụ kích nổ viên đạn tiếp theo khi piston tiến đến vị trí xa nhất về phía trước.[16][17]

Một khẩu súng máy Lewis tại Bảo tàng Quân sự Elgin ở Canada. Có thể nhìn thấy phần đuôi của bộ tản nhiệt bằng nhôm có các cánh màu xám nhạt, nằm vừa vặn bên trong vỏ bọc làm mát hình trụ màu đồng thau của súng.

Vỏ bọc nòng bằng nhôm của súng tận dụng luồng khí phản lực ở đầu nòng để hút không khí mát chạy qua nòng súng và làm mát nó. Cơ chế này hoạt động nhờ một bộ tản nhiệt bằng nhôm có các cánh tản nhiệt hướng tâm chạy dọc và tiếp xúc trực tiếp với nòng súng, kéo dài từ phần "cổ chai" gần đầu nòng vỏ bọc và nhô ra ngoài ở phía sau đuôi vỏ bọc (thiết kế làm mát nòng này phần nào giống với mẫu súng máy M1917/18 Marlin-Rockwell sau này của Mỹ).[18] Đã có một số tranh luận về việc liệu phần vỏ bọc này có thực sự cần thiết hay không: trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhiều khẩu súng máy cũ vốn dùng trên máy bay không có ống bọc này đã được cấp phát cho các đơn vị phòng không của Lực lượng Phòng vệ Quốc nội Anh (British Home Guard) và cho các sân bay Anh, trong khi số khác được lắp trên xe cơ giới tại Mặt trận Tây Sa mạc; tất cả đều hoạt động bình thường mà không cần vỏ bọc. Điều này dẫn đến giả thuyết rằng Lewis đã kiên quyết giữ lại hệ thống làm mát này chủ yếu để chứng minh thiết kế của ông khác biệt với các nguyên mẫu trước đó của Maclean.[19] Chỉ có Hải quân Hoàng gia Anh là tiếp tục giữ lại hệ thống ống bọc và bộ tản nhiệt này trên các khẩu súng Lewis cấu hình phòng không lắp trên boong tàu.[19]

Một tấm áp phích tuyển quân năm 1917 của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ với hình ảnh khẩu súng máy Lewis

Súng máy Lewis sử dụng một hộp tiếp đạn dạng đĩa chứa 47 hoặc 97 viên đạn.[20] Hộp tiếp đạn dạng đĩa xếp các viên đạn hướng mũi vào trong tâm theo hình nan quạt hướng tâm. Không giống như các loại hộp tiếp đạn hình trống phổ biến hơn (vốn xếp các viên đạn song song với trục và đẩy đạn bằng lực căng của lò xo), hộp tiếp đạn dạng đĩa được xoay bằng cơ chế bánh răng định tiến. Hộp tiếp đạn của súng Lewis được truyền động bởi một vấu cam nằm trên lưng bệ khóa nòng, từ đó vận hành một cơ chế con cóc thông qua một lẫy truyền.[17]

Trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Thượng sĩ thợ vũ khí Francis Leo Keeffe thuộc Quân đoàn Hậu cần Lục quân Hoàng gia Anh đã được trao Tặng thưởng Danh dự vì đã phát minh ra một thiết bị nạp đạn tự động cho hộp tiếp đạn của loại súng này.[21]

Một điểm thú vị trong thiết kế là súng không sử dụng lò xo hồi lực dạng cuộn xoắn thông thường, mà sử dụng một lò xo xoắn phẳng (gần giống như dây cót lớn của đồng hồ) nằm trong một hộp chứa hình bán nguyệt ngay phía trước vòng cò. Thanh truyền động có mặt dưới dạng răng cưa, ăn khớp với một bánh răng để lên dây cót cho lò xo này. Khi súng bắn, bệ khóa nòng lùi về sau làm bánh răng quay, siết chặt lò xo cho đến khi lực cản của lò xo cân bằng với lực lùi của cụm bệ khóa nòng. Tại thời điểm đó, khi áp suất khí thuốc trong buồng đạn giảm xuống, lò xo sẽ giãn ra làm quay bánh răng, từ đó đẩy thanh truyền động về phía trước để nạp viên đạn tiếp theo. Tương tự như dây cót đồng hồ, lò xo hồi lực của súng Lewis có một thiết bị điều chỉnh để thay đổi lực cản nhằm thích ứng với sự thay đổi của nhiệt độ và độ mòn cơ học. Thiết kế này của Lewis đã chứng minh được độ tin cậy cao, thậm chí còn được người Nhật sao chép và sử dụng rộng rãi trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ hai.[22]

Tốc độ bắn lý thuyết của súng là khoảng 500–600 viên mỗi phút. Một bộ phận tăng tốc độ giật đã được bổ sung vào biến thể súng máy trên máy bay năm 1918 (và được lắp cải tiến cho nhiều mẫu năm 1917), giúp nâng tốc độ bắn lên khoảng 800 viên mỗi phút. Phiên bản dùng cho bộ binh dưới mặt đất nặng 28 lb (12,7 kg), chỉ bằng khoảng một nửa trọng lượng của một khẩu súng máy hạng trung điển hình thời bấy giờ như súng máy Vickers, và nó được lựa chọn một phần vì tính cơ động cao hơn súng máy hạng nặng, cho phép một binh sĩ có thể tự mang vác và tác chiến độc lập.[23] Hãng BSA thậm chí đã sản xuất ít nhất một mẫu (mẫu "Súng máy Lewis Kiểu Bộ binh Nhẹ B.S.A.", loại bỏ ống bọc tản nhiệt bằng nhôm và có thêm ốp lót tay phía trước bằng gỗ) được thiết kế như một dạng súng trường tự động.[24]

Sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Thế giới thứ nhất

[sửa | sửa mã nguồn]
Các binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 28, Sư đoàn 2 Úc đang thực hành huấn luyện bài bắn súng máy Lewis tại Renescure

Trong những ngày đầu của cuộc chiến, Quân đội Bỉ đã đưa vào phục vụ 20 khẩu súng nguyên mẫu (5 khẩu dùng cỡ đạn 7.65×53mm và 15 khẩu dùng cỡ đạn .303) để phục vụ cho việc phòng thủ Namur.[25]

Vương quốc Anh chính thức phê duyệt súng máy Lewis sử dụng cỡ đạn .303 British cho cả lực lượng lục quân và không quân vào tháng 10 năm 1915.[26] Loại vũ khí này bắt đầu được cấp phát cho các tiểu đoàn bộ binh của Quân đội Anh tại Mặt trận phía Tây vào đầu năm 1916 để thay thế cho súng máy Vickers nặng nề và kém cơ động hơn (vốn đã được rút khỏi các đơn vị bộ binh để chuyển giao cho Quân đoàn Súng máy chuyên biệt sử dụng).[27] Hải quân Hoa KỳThủy quân lục chiến Hoa Kỳ cũng nối gót vào đầu năm 1917 khi đưa vào trang bị súng máy Lewis M1917 (do hãng Savage Arms Co. sản xuất) sử dụng cỡ đạn .30-06 Springfield.

Những ghi chép trong quá trình huấn luyện năm 1918 của Arthur Bullock, một binh nhì thuộc Trung đoàn Bộ binh nhẹ 2/4th Oxfordshire and Buckinghamshire, cho biết ưu điểm lớn nhất của khẩu súng này là "khả năng bất khả xâm phạm" (độ bền bỉ cao), trong khi các nhược điểm chính của nó là "sự tinh vi của các bộ phận cơ khí, thực tế là nó không có tác dụng trong việc tạo màn hỏa lực phòng thủ dày đặc, và hệ thống làm mát bằng không khí được áp dụng không cho phép bắn liên tục quá 12 hộp tiếp đạn." Ông ghi nhận trọng lượng của súng là 26 lbs khi chưa nạp đạn và 30+12 lbs khi đã nạp đạn (mặc dù về sau ông có nhắc lại là súng nặng 35 lbs khi nạp đầy đạn), và một hộp tiếp đạn nạp đầy chứa 47 viên đạn; súng được đỡ bằng một chân giá bipod ở phía trước và tỳ vào vai của xạ thủ ở phía sau.[28] Sau khoảng sáu tháng phục vụ, Bullock được cử tham gia một khóa học ôn tập về súng máy Lewis tại La Lacque. Ông nhớ lại rằng sự nghiêm ngặt của quá trình huấn luyện đồng nghĩa với việc "mọi người đều tốt nghiệp với hiệu suất đạt 100%, điều mà bạn sẽ hiểu rõ hơn khi biết rằng một phần của bài kiểm tra cuối khóa là tháo rời hoàn toàn khẩu súng, sau đó bịt mắt và lắp ráp chính xác lại 104 bộ phận đó chỉ trong vòng một phút."[29]

Khẩu súng được vận hành bởi một tổ gồm bảy người. Bullock là Xạ thủ số 1, người trực tiếp mang khẩu súng và một khẩu súng ngắn rulo, trong khi "Xạ thủ số 2 mang một chiếc túi chứa các bộ phận thay thế, và năm thành viên còn lại của tổ mang các đĩa đạn đã nạp sẵn." Bullock lưu ý thêm: "tất cả mọi người đều có thể bắn khẩu súng nếu được yêu cầu, và tất cả đều có thể thực hiện sửa chữa hư hỏng chỉ trong vài giây."[30] Bullock cũng đưa ra một vài mô tả sống động về việc sử dụng súng trong chiến đấu. Ví dụ như vào ngày 13 tháng 4 năm 1918, ông và các đồng đội đã chặn đứng một đợt tiến quân của Đức dọc theo con đường Calonne/Robecq, ông ghi lại: "chúng tôi thay phiên nhau bắn khẩu súng cho đến khi nó quá nóng để có thể cầm nắm,"[31] và ghi nhận rằng 400 thương vong của phía Đức được gây ra "chủ yếu là bởi khẩu súng Lewis của tôi!"[32][33]

Lục quân Hoa Kỳ chưa bao giờ chính thức tiếp nhận loại vũ khí này cho lực lượng bộ binh của mình,[19] thậm chí họ còn đi xa đến mức tịch thu súng máy Lewis của các đơn vị Thủy quân lục chiến Mỹ vừa đặt chân đến Pháp để thay thế bằng súng máy Chauchat của Pháp[34]—một hành động được cho là có liên quan đến việc Tướng Crozier có ác cảm cá nhân với Lewis và khẩu súng của ông.[35] Dù vậy, các sư đoàn thuộc Quân đoàn II Hoa Kỳ khi phối thuộc cùng Quân đội Anh vẫn được trang bị loại súng này.[36] Lục quân Mỹ cuối cùng đã đưa vào sử dụng mẫu Súng trường tự động Browning (BAR) vào năm 1917 (dù phải đến tháng 9 năm 1918 những khẩu súng mới này mới ra được tới tiền tuyến).[37] Hải quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ tiếp tục sử dụng súng Lewis cỡ đạn .30-06 cho đến giai đoạn đầu của Chiến tranh Thế giới thứ hai.[38]

Binh sĩ Úc đang nổ súng đánh trả máy bay địch trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất

Đế quốc Nga đã mua 10.000 khẩu súng máy Lewis vào năm 1917 từ chính phủ Anh và đặt hàng thêm 10.000 khẩu khác từ hãng Savage Arms ở Mỹ. Chính phủ Mỹ khi đó không mặn mà với việc cung cấp súng cho chính phủ Sa hoàng Nga và vẫn còn một số hoài nghi về việc liệu chúng có thực sự được bàn giao hay không, tuy nhiên các hồ sơ chỉ ra rằng 5.982 khẩu súng do Savage sản xuất đã được chuyển đến Nga trước ngày 31 tháng 3 năm 1917. Số súng máy Lewis do Anh cung cấp đã được gửi đến Nga vào tháng 5 năm 1917, nhưng không thể biết chắc chắn rằng đây là số súng do Savage sản xuất được trung chuyển qua Anh hay là một lô hàng riêng biệt được sản xuất ngay tại Anh.[39] Các lực lượng Bạch Vệ ở vùng Tây Bắc Nga cũng nhận được vài trăm khẩu súng Lewis trong giai đoạn 1918–1919.[40]

Các xe tăng Mark IV của Anh đã sử dụng súng máy Lewis để thay thế cho súng Vickers và Hotchkiss dùng trên các mẫu xe tăng đời trước. Súng Lewis được chọn vì có hộp tiếp đạn tương đối gọn gàng, nhưng hệ thống thông gió bên trong xe tăng đã khiến luồng không khí bị đảo ngược qua ống bọc làm mát của súng, dẫn đến việc không khí nóng và khói thuốc độc hại bị thổi ngược thẳng vào mặt của xạ thủ.[41] Ngay sau khi một cơ chế nạp đạn bằng dây băng cải tiến dành cho súng Hotchkiss được phát triển, súng Lewis đã bị thay thế hoàn toàn bởi chúng trên các mẫu xe tăng thế hệ sau.[42]

Khi chứng kiến đối phương sử dụng tính cơ động của khẩu súng này để phục kích các toán quân đột kích của mình, lính Đức đã đặt biệt danh cho súng Lewis là "Rắn đuôi chuông Bỉ" (the Belgian Rattlesnake). Người Đức cũng sử dụng các khẩu súng Lewis chiếm được trong cả hai cuộc Chiến tranh Thế giới, và đưa nội dung hướng dẫn vận hành cũng như bảo dưỡng loại súng này vào chương trình huấn luyện của các khẩu đội súng máy.[43]

Mặc dù có chi phí chế tạo đắt hơn súng máy Vickers (giá của một khẩu súng Lewis là 165 bảng Anh vào năm 1915[11] và 175 bảng Anh vào năm 1918; trong khi súng Vickers chỉ có giá khoảng 100 bảng), súng máy Lewis vẫn được quân đội Anh săn đón gắt gao trong suốt Thế chiến I. Súng Lewis cũng có lợi thế là thời gian chế tạo nhanh hơn khoảng 80% so với súng Vickers và cơ động hơn rất nhiều.[23] Do đó, chính phủ Anh đã đặt hàng tới 3.052 khẩu súng trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 1914 đến tháng 6 năm 1915. Số lượng súng máy Lewis trên chiến trường đã vượt trội hơn súng Vickers với tỷ lệ khoảng 3:1.[37]

Sử dụng trên máy bay

[sửa | sửa mã nguồn]
Đại úy Charles Chandler (cầm khẩu súng máy Lewis nguyên mẫu) và Trung úy Roy Kirtland trên chiếc máy bay Wright Model B sau lần bắn thử nghiệm thành công súng máy từ máy bay đầu tiên vào tháng 6 năm 1912

Súng máy Lewis là loại súng máy đầu tiên được bắn từ một chiếc máy bay; vào ngày 7 tháng 6 năm 1912, Đại úy Charles deForest Chandler thuộc Lục quân Mỹ đã bắn một khẩu súng Lewis nguyên mẫu từ thanh để chân của chiếc máy bay phi đối xứng Wright Model B.[43]

Súng máy Lewis được sử dụng rộng rãi trên các máy bay của Anh và Pháp trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, đóng vai trò là vũ khí của quan sát viên hoặc xạ thủ, hoặc là vũ khí bổ sung cho súng Vickers phổ biến hơn. Sự ưa chuộng súng Lewis làm súng máy trên máy bay một phần là do trọng lượng nhẹ, cơ chế làm mát bằng không khí và việc sử dụng các hộp tiếp đạn dạng đĩa độc lập 97 viên. Vì lý do này, súng Lewis lần đầu tiên được lắp trên chiếc Vickers F.B.5 "Gunbus" – vốn có thể coi là chiếc máy bay chiến đấu chuyên dụng đầu tiên trên thế giới khi đưa vào phục vụ vào tháng 8 năm 1914, thay thế cho súng máy Vickers được sử dụng trên các phiên bản thử nghiệm trước đó.[44] Nó cũng được lắp trên hai mẫu sản xuất đời đầu của dòng máy bay Bristol Scout C bởi phi công Lanoe Hawker vào giữa năm 1915, gắn ở mạn trái và bắn thẳng về phía trước lệch ra ngoài một góc 30° để tránh phạm vi quét của cánh quạt.

Vấn đề khi lắp súng Lewis để bắn về phía trước trên hầu hết các máy bay tiêm kích một động cơ Cấu hình kéo (tractor configuration) là do chu kỳ khai hỏa bệ khóa nòng mở của súng Lewis, khiến nó không thể đồng bộ hóa để bắn trực diện về phía trước xuyên qua vòng quay cánh quạt; chỉ có chiếc máy bay kỳ lạ SPAD S.A của Pháp sở hữu một buồng lái phụ cho xạ thủ có bản lề đặt ngay phía trước cánh quạt (và phi công), cùng các máy bay tiêm kích cấu hình đẩy của Anh như Vickers F.B.5, Airco D.H.2, Royal Aircraft Factory F.E.2F.E.8 là có thể dễ dàng sử dụng súng Lewis làm vũ khí bắn thẳng về phía trước trong giai đoạn đầu cuộc chiến. Một số máy bay tiêm kích cấu hình kéo một động cơ của Anh đã sử dụng giá treo Foster trên cánh trên để nâng súng Lewis lên phía trên vòng quay cánh quạt nhằm bắn không đồng bộ, bao gồm các máy bay tiêm kích sản xuất hàng loạt S.E.5/S.E.5a và các mẫu sửa đổi ngoài mặt trận của chiếc Avro 504. Đối với các quan sát viên hoặc xạ thủ phía sau, súng Lewis được lắp trên một vòng xoay Scarff, cho phép khẩu súng có thể quay và nâng lên hạ xuống trong khi vẫn đỡ được toàn bộ trọng lượng của súng.[45]

Chiếc Sopwith Dolphin năm 1918 trang bị cặp súng máy Lewis hướng nòng lên trên

Cho đến tháng 9 năm 1916, các tàu khí cầu Zeppelin rất khó bị tấn công thành công ở độ cao lớn, dù điều này cũng khiến việc ném bom chính xác của chúng trở nên bất khả thi. Các máy bay rất chật vật để đạt được độ cao thông thường là 10.000 foot (3.000 m), và việc bắn các viên đạn rắn thông thường từ súng Lewis trên máy bay không đem lại hiệu quả: chúng chỉ tạo ra các lỗ thủng nhỏ gây rò rỉ khí không đáng kể. Nước Anh đã phát triển các loại đạn mới: đạn Brock chứa chất kali clorat tự cháy,[46] và đạn Buckingham nạp phốt pho tự mồi cháy[47] để đốt cháy khí hydro của tàu Zeppelin. Những loại đạn này đã sẵn sàng vào tháng 9 năm 1916.[48] Khi kết hợp với loại đạn nổ Pomeroy vốn có khả năng xé toạc lớp vỏ bọc, chúng đã chứng minh hiệu quả rất lớn, và các khẩu súng Lewis nạp hỗn hợp đạn Pomeroy, Brock và Buckingham thường được sử dụng để bắn phá các tàu khí cầu Zeppelin của Đức,[49] các loại khí cầu khác và khí cầu dằn phòng không *Drache*.[43]

Góc nhìn cận cảnh khẩu súng máy Lewis phiên bản trên máy bay và giá đỡ

Trên các máy bay một tầng cánh rưỡi Nieuport 11Nieuport 17 sau này của Pháp, một khẩu súng Lewis được lắp phía trên cánh trên (tương tự như cách lắp trên chiếc S.E.5a của Anh) – đôi khi sử dụng giá treo Foster, cho phép bắn thẳng về phía trước bên ngoài vòng quay cánh quạt. Giá treo Foster thường tích hợp một thanh ray dầm chữ I dạng vòm làm thành phần cấu trúc phía sau cùng, nhờ đó súng Lewis có thể trượt lùi về sau và xuống dưới dọc theo thanh ray về phía buồng lái, giúp phi công có thể thay đĩa đạn ngay khi đang bay – tuy nhiên phi công ách của Quân đoàn Bay Hoàng gia Anh (RFC) Albert Ball sở hữu Huân chương Chữ thập Victoria (VC) cũng hiểu rằng súng Lewis trên loại giá treo này vẫn giữ lại lẫy cò nguyên bản, và do đó có thể bắn hướng thẳng lên trên. Ông đã sử dụng khẩu súng Lewis bắn hướng lên này để tấn công các máy bay hai chỗ ngồi đơn độc của Đức từ phía dưới và phía sau, nơi quan sát viên đối phương không thể nhìn thấy hay bắn trả ông. Việc ông sử dụng vũ khí theo cách này trên chiếc Nieuport đã dẫn đến việc áp dụng nó sau đó trên chiếc S.E.5/S.E.5a, do Ball từng đóng vai trò cố vấn trong quá trình phát triển loại máy bay này. Chiếc Sopwith Dolphin ra đời sau đó, dù đã được trang bị sẵn cặp súng Vickers đồng bộ đặt ngay phía trước phi công và ngay trên khối động cơ V-8, vẫn có thể sử dụng thêm một hoặc hai khẩu súng Lewis lắp trên thanh chéo phía trước của cấu trúc thanh chống cabane, nằm giữa các tấm cánh trên, đóng vai trò như một biện pháp chống tàu Zeppelin. Một số chiếc Dolphin được sử dụng bởi Phi đoàn 87 RAF vào mùa hè năm 1918 đã chọn cách lắp cặp súng Lewis của họ ở phía trên cánh dưới, ngay sát bên trong các thanh chống cánh trong để làm một cặp súng máy bắn thẳng về phía trước bổ sung; tuy nhiên với cấu hình tự chế ngoài mặt trận này, phi công không thể tiến hành sửa kẹt súng cũng như thay đĩa đạn cho các khẩu súng Lewis của họ trong suốt chuyến bay.

Súng máy Lewis cũng được mang theo như súng phòng thủ trên các khí cầu của Anh. Các Khí cầu nhỏ lớp SS mang theo một khẩu súng. Các Khí cầu nhỏ lớp NS lớn hơn mang theo hai hoặc ba khẩu súng trong khoang điều khiển và một số chiếc được lắp thêm một khẩu súng cùng vị trí xạ thủ ở phía trên đỉnh của túi chứa khí.[50]

Chiến tranh Thế giới thứ hai

[sửa | sửa mã nguồn]

Đến thời điểm Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ, Quân đội Anh đã thay thế súng máy Lewis bằng súng máy Bren cho hầu hết các lực lượng bộ binh của mình.[51] Trên vai trò vũ khí gắn trên máy bay, súng Lewis cũng phần lớn bị thay thế bởi Vickers K – loại vũ khí có thể đạt tốc độ bắn cao hơn gấp đôi so với súng Lewis.

Các tân binh thuộc Lực lượng Tình nguyện Singapore đang huấn luyện với súng máy Lewis, năm 1941

Trong cuộc khủng hoảng sau sự kiện nước Pháp sụp đổ, nơi một phần lớn trang thiết bị của Quân đội Anh đã bị bỏ lại tại Dunkirk, các kho dự trữ súng máy Lewis (cả hai phiên bản dùng cỡ đạn .303 và .30-06) đã khẩn cấp được đưa trở lại phục vụ, chủ yếu cấp phát cho Lực lượng Phòng vệ Quốc nội (Home Guard), nhiệm vụ phòng thủ sân bay và làm súng phòng không.[52] Tổng cộng có 58.983 khẩu súng máy Lewis đã được rút ra từ các kho chứa, tiến hành sửa chữa, tân trang và cấp phát bởi người Anh trong suốt cuộc chiến.[53] Bên cạnh vai trò là vũ khí dự bị tại Anh, chúng cũng được sử dụng ở ngay tiền tuyến bởi các lực lượng Hà Lan, Anh, Úc và New Zealand trong những năm đầu của chiến dịch Thái Bình Dương chống lại quân Nhật.[54] Súng máy Lewis tiếp tục được sử dụng hiệu quả như một vũ khí phòng không trong suốt cuộc chiến; ở vai trò này, phía Anh ghi nhận nó đã bắn hạ nhiều máy bay bay thấp của địch hơn bất kỳ loại vũ khí phòng không nào khác.[55] Tác giả Peter White chỉ ra rằng tiểu đoàn của ông thuộc Trung đoàn King's Own Scottish Borderers vẫn sử dụng súng Lewis trên các xe thiết giáp Universal Carrier vào năm 1945.[56] Các đơn vị Đặc nhiệm Hải quân Hoàng gia Anh (Royal Naval Commandos) cũng được chỉ định sử dụng loại vũ khí này cho các đội đổ bộ bãi biển của họ.[57]

Vào thời điểm bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai, súng Lewis là vũ khí phòng không tầm gần tiêu chuẩn của Hải quân Hoàng gia Anh. Nó được lắp đặt trên các tàu chiến lớn, tàu đánh cá vũ trang và tàu thương mại được trang bị vũ khí phòng thủ. Chúng thường được sử dụng trên các bệ pháo nòng kép, và một bệ pháo 4 nòng thậm chí đã được phát triển dành cho các tàu ngư lôi (Motor Torpedo Boat). Các tàu ngầm Anh nhìn chung mang theo hai khẩu súng trên các bệ đỡ đơn. Mặc dù dần bị thay thế bởi pháo Oerlikon 20 mm, các tàu corvette mới đóng vẫn tiếp tục được trang bị cặp súng Lewis nòng kép cho đến tận cuối năm 1942. Súng máy Lewis cũng được mang theo bởi các xuồng cứu hộ hàng hải cứu hộ phi công của Không quân Hoàng gia Anh.[58]

Một tàu ngư lôi của Hải quân Hoàng gia Anh đang tuần tra với hai bệ súng máy Lewis nòng kép, năm 1940

Lực lượng vũ trang Mỹ đã sử dụng súng máy Lewis (phiên bản cỡ đạn .30-06) trong suốt cuộc chiến. Hải quân Hoa Kỳ đã sử dụng loại vũ khí này trên các tàu tuần duyên vũ trang, tàu phụ trợ nhỏ, xuồng đổ bộ và tàu ngầm. Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ cũng trang bị súng Lewis trên các tàu của họ.[55] Nó chưa bao giờ được Lục quân Mỹ chính thức tiếp nhận cho bất kỳ vai trò nào khác ngoài việc làm súng máy trên máy bay.[19]

Quân đội Đức đã sử dụng các khẩu súng máy Lewis chiếm được của Anh trong chiến tranh dưới định danh 7,7 mm l.MG 137(e),[59] trong khi sau cuộc xâm lược Hà Lan vào tháng 5 năm 1940, các khẩu súng Lewis M.20 của Hà Lan cũng được nước Đức trưng dụng dưới định danh 6,5 mm l.MG 100 (h).[60] Người Nhật đã sao chép thiết kế của súng Lewis và sử dụng nó một cách rộng rãi trong suốt cuộc chiến;[55] nó được định danh là Kiểu 92 (Type 92) và sử dụng cỡ đạn có gờ 7,7 mm của Nhật có thể hoán đổi hoàn toàn với đạn .303 British của Anh.[61][62]

Súng máy Lewis chính thức được rút khỏi biên chế của quân đội Anh vào năm 1946,[37] nhưng vẫn tiếp tục được sử dụng bởi các lực lượng đối đầu với Liên Hợp Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên. Nó cũng được sử dụng để chống lại lực lượng Pháp và Mỹ trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và cuộc Chiến tranh Việt Nam diễn ra sau đó.[63]

Tổng sản lượng súng máy Lewis được chế tạo bởi hãng BSA trong Chiến tranh Thế giới thứ hai là hơn 145.000 khẩu, cùng tổng cộng 3.550 khẩu súng được sản xuất bởi công ty Savage Arms Co. cho quân đội Mỹ: bao gồm 2.500 khẩu dùng cỡ đạn .30-06 và 1.050 khẩu dùng cỡ đạn .303 British.[64]

Các biến thể

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Model 1915 — Đây là định danh dành cho các khẩu súng Lewis Mk I cỡ đạn .303 British được chế tạo cho Canada tại Hoa Kỳ bởi Công ty Savage Arms. Một số lượng lớn loại súng này cũng được Savage sản xuất cho Quân đội Anh và theo cấu hình trên máy bay cho Pháp và Ý.[65]
Khẩu Vz 28/L của Tiệp Khắc, sử dụng cỡ đạn 7.92×57mm Mauser

Tiệp Khắc

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Mitrailleur M.20 — Tại Hà Lan, súng máy Lewis ở cả hai phiên bản dùng dưới mặt đất và trên máy bay đều sử dụng cỡ đạn .256 Mannlicher và chỉ sử dụng loại hộp tiếp đạn đĩa 97 viên.[67] Phiên bản bộ binh được trang bị thêm một tay xách gắn bằng vòng kẹp xung quanh phần sau của ống bọc làm mát. Cải tiến này của Hà Lan dựa trên thiết kế cũ của BSA rất đơn giản, vì đạn 6.5mm Mannlicher của Hà Lan/Romania có các kích thước trọng yếu của phần đuôi vỏ đạn và gờ móc đạn gần như tương đồng với đạn .303 British.

Vương quốc Anh

[sửa | sửa mã nguồn]
Một tiểu đội Lực lượng Phòng vệ Quốc nội Anh vào năm 1941. Binh sĩ bên phải đang mang một khẩu Lewis Mk III* hoặc Mk III** với báng súng dạng khung và ốp lót tay tự chế để có thể sử dụng làm vũ khí mặt đất. Người bên cạnh đang mang hộp tiếp đạn dạng đĩa.
  • Mark I: Mẫu Lewis Mk I cỡ đạn .303 British là phiên bản dùng cho bộ binh cơ bản được các lực lượng Anh và Đế quốc Anh sử dụng từ năm 1915 với rất ít cải tiến.[68]
  • Mark II: Đây là phiên bản chuyên dụng trên máy bay đầu tiên của dòng súng Lewis, các phiên bản trước đó đều là đồ tự chế từ súng Mk I. Các cánh tản nhiệt được loại bỏ để giảm trọng lượng, nhưng lớp vỏ bảo vệ mỏng nhẹ xung quanh nòng vẫn được giữ lại. Báng súng bằng gỗ được tháo bỏ và thay thế bằng tay cầm dạng "tay xẻng". Hộp tiếp đạn đĩa 97 viên cũng được giới thiệu, đòi hỏi một trục tiếp đạn lớn hơn trên thân súng.
  • Mark II*: Phiên bản cải tiến từ mẫu Mk II với tốc độ bắn được nâng cao, ra mắt vào năm 1918.
  • Mark III: Một bản nâng cấp sâu hơn của mẫu Mk II với tốc độ bắn thậm chí còn nhanh hơn và vỏ bọc nòng được loại bỏ hoàn toàn, ra mắt vào cuối năm 1918.[69]
  • Mark III*: Định danh của Anh dành cho mẫu súng máy trên máy bay M1918 cỡ đạn .30-06 của Mỹ, có khoảng 46.000 khẩu đã được nhập khẩu để Lực lượng Phòng vệ Quốc nội sử dụng vào năm 1940. Những khẩu súng này được sửa đổi để dùng dưới mặt đất bằng cách thay tay cầm dạng xẻng bằng một báng súng dạng khung (skeleton stock) đơn sơ và bổ sung thêm ốp lót tay phía trước bằng gỗ đơn giản, cho phép súng có thể bắn khi tỳ lên bao cát hoặc bắn kẹp hông khi đang tiến công.
  • Mark III**: Định danh dành cho các khẩu Mk III cỡ đạn .303 được sửa đổi theo cách tương tự như các khẩu M1918 của Mỹ.
  • Mark III DEMS: Được thiết kế dành cho các tàu thương mại được trang bị vũ khí phòng thủ(DEMS), biến thể này tương tự như mẫu Mk III** nhưng có thêm một tay cầm súng ngắn ở phần ốp lót tay trước, giúp vũ khí có thể bắn tự do khi tỳ vào vai từ bất kỳ vị trí nào trên boong tàu.
  • Mark IV: Sau khi tất cả vũ khí có thể sử dụng được tân trang và cấp phát hết, vẫn còn lại một số lượng lớn súng Lewis không hoàn chỉnh và các bộ phận rời. Chúng được lắp ráp thành các khẩu súng tương tự như mẫu Mk III**. Do tình trạng thiếu hụt trầm trọng loại lò xo "dây cót" dễ hỏng của súng Lewis, một loại lò xo đơn giản hơn đã được chế tạo và đặt trong một ống thẳng kéo dài vào trong báng súng dạng khung. Nhiều khẩu súng loại này đã được trang bị một giá ba chân đơn giản và nhẹ được sản xuất đặc biệt.[70]
  • M1917 Lewis — Hãng Savage đã sản xuất một phiên bản của mẫu Lewis Mk I cho các lực lượng Mỹ, được hoán đổi sang cỡ đạn .30-06 Springfield và sửa đổi hệ thống trích khí do động năng mạnh hơn của loại đạn Mỹ. Một số ít trong số này đã được sửa đổi để sử dụng trên máy bay tại các vị trí lắp súng không đồng bộ trên thân máy bay. Định danh của Hải quân Hoa KỳLewis Mark VI và Mk VI Mod 1.
  • M1918 Lewis — Phiên bản chuyên dụng trên máy bay được chế tạo dựa trên mẫu M1917.

Các dự án thử nghiệm

[sửa | sửa mã nguồn]

Một dự án thương mại vào năm 1921 của Công ty Birmingham Small Arms là phiên bản bắn cỡ đạn 12.7×81mm (.5-inch Vickers), được thiết kế để chống lại máy bay và xe tăng. Vào khoảng cùng thời gian đó, BSA đã phát triển Mẫu Bộ binh Nhẹ (Light Infantry Model) sở hữu hộp tiếp đạn 22 viên và ốp lót tay trước bằng gỗ thay cho các cánh tản nhiệt và vỏ bọc nòng; mẫu này được kỳ vọng sẽ sử dụng theo cách tương tự như Browning M1918 (BAR). Một phát triển khác là cụm súng Lewis nòng kép dùng trên máy bay, trong đó thân của hai khẩu súng được ghép song song sát nhau và các hộp tiếp đạn đĩa được lắp thẳng đứng ở mỗi bên mạn. Không có dự án nào trong số này được quân đội các nước chấp thuận.[71]

Đại tá Lewis cũng từng thử nghiệm các biến thể súng trường bộ binh nhẹ hơn, sử dụng cỡ đạn .30-06, nạp đạn bằng hộp tiếp đạn dạng hộp thẳng để bắn tỳ vai hoặc kẹp hông nhằm cạnh tranh với BAR. Chúng được gọi tên là "Súng trường Giai đoạn Tấn công" (Assault Phase Rifle) – cấu từ có thể hiểu là lần đầu tiên thuật ngữ "Súng trường tấn công" (Assault Rifle) được sử dụng, mặc dù theo phân loại ngày nay thì thứ vũ khí này là một khẩu súng trường chiến đấu. Mặc dù nhẹ hơn BAR 3 pound và sở hữu nhiều tính năng rất đi trước thời đại (chẳng hạn như nút lẫy nhả hộp tiếp đạn thuận cả hai tay), Lục quân Hoa Kỳ cuối cùng vẫn lựa chọn tiếp nhận khẩu BAR.[72]

Một biến thể súng máy hạng nhẹ nòng ngắn cũng đã được phát triển vào thời điểm bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai. Súng đi kèm với ốp lót tay bảo vệ và được nạp đạn từ hộp tiếp đạn 30 viên của súng Bren; tuy nhiên, giới chức Anh đã quyết định tập trung sản xuất cho khẩu Bren, vốn có lợi thế là có thể thay đổi nòng súng dễ dàng.[73]

Các quốc gia sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Canfield, Bruce (tháng 10 năm 2016). "1916: Guns On The Border". American Rifleman. National Rifle Association.
  2. Iman, Khoerozadi Faizal; Triharjanto, Robertus Heru; Wibowo, Heri Budi; Asmoro, Novky; Wulandari, Tsaniyah (ngày 21 tháng 9 năm 2023). "Analisis Pemanfaatan Teknologi Alutsista dan Sumber Daya Persenjataan yang Digunakan pada Periode Perang Gerilya Indonesia Tahun 1945 – 1949" [Analysis of Weapon Technology and Defense Resources Used in the Indonesian Guerrilla War 1945 – 1949]. Santhet: Jurnal Sejarah, Pendidikan, dan Humaniora (bằng tiếng Indonesia). 7 (2): 669–675. doi:10.36526/santhet.v7i2.2994. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2024.
  3. "Mr. Kellaway's Statement. (Hansard, 24 June 1919)".
  4. Easterly (1998), tr. 65.
  5. Smith, Walter Harold Black; Smith, Joseph Edward (1960). "Small Arms of the World: The Basic Manual of Military Small Arms, American, Soviet, British, Czech, German, French, Belgian, Italian, Swiss, Japanese, and All Other Important Nations".
  6. 1 2 Skennerton (2001), tr. 5
  7. Ford 2005, tr. 67–68.
  8. 1 2 Ford (2005), tr. 68
  9. Hogg (1978), tr. 218.
  10. Huon, Jean (tháng 1 năm 1997). "Le fusil mitrailleur Lewis (1ère partie)" [The Lewis light machine gun (1st part)]. La Gazette des Armes (bằng tiếng Pháp). Số 273. tr. 23–26. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2018.
  11. 1 2 Skennerton (2001), tr. 6
  12. Skennerton (2001), tr. 7
  13. 1 2 3 Skennerton (2001), tr. 41
  14. Skennerton (2001), tr. 15, 41–46.
  15. Skennerton (2001), tr. 41, 47.
  16. Ford (2005), tr. 68–70.
  17. 1 2 Smith (1943), tr. 31
  18. "Springfield Armory photo of the M1918 Marlin gun with heatsink fitted". Springfield Armory. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2026.
  19. 1 2 3 4 Ford (2005), tr. 70
  20. Smith (1943), tr. 28, 32.
  21. www.ancestry.co.uk https://www.ancestry.co.uk/imageviewer/collections/2896/images/40584_606246_0910-00197?pId=21997. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2025. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  22. Smith (1943), tr. 31–32.
  23. 1 2 Hogg & Batchelor (1976), tr. 27.
  24. Skennerton (2001), tr. 4.
  25. 1 2 Grant (2014), tr. 11.
  26. Skennerton (2001), tr. 6.
  27. Griffith, Paddy, biên tập (1998). British Fighting Methods in the Great War. London: Routledge. tr. 8. ISBN 978-0714634951.
  28. Bullock (2009), tr. 63, 64.
  29. Bullock (2009), tr. 70.
  30. Bullock (2009), tr. 64.
  31. Bullock (2009), tr. 66.
  32. Bullock (2009), tr. 69.
  33. Barnes, A. F. (1930). The Story of the 2/5th Gloucestershire Regiment. Gloucester: Crypt House Press.
  34. Hogg & Batchelor (1976), tr. 30-31.
  35. Hogg & Batchelor (1976), tr. 31.
  36. Laemlein, Tom (ngày 31 tháng 10 năm 2017). "Machine Guns of the American Expeditionary Force in World War I". American Rifleman. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2026.
  37. 1 2 3 Ford (2005), tr. 71
  38. Smith (1973), tr. 270
  39. Skennerton (2001), tr. 46.
  40. Khvostov, Mikhail (ngày 15 tháng 7 năm 1997). The Russian Civil War (2): White Armies. Men-at-Arms 305. tr. 7. ISBN 978-1-85532-656-9.
  41. Fletcher, David (2007), British Mark IV Tank, New Vanguard 133, Osprey Publishing, tr. 10, ISBN 978-1-84603-082-6
  42. Glanfield (2001).
  43. 1 2 3 Bruce, Robert (tháng 3 năm 2000). "The Lewis Gun". Guns Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2009.
  44. Driver, Hugh (1997). The Birth of Military Aviation: Britain, 1903–1914. The Boydell Press. tr. 126. ISBN 978-0-86138-234-4. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2014. {{Chú thích sách}}: Kiểm tra giá trị |isbn=: giá trị tổng kiểm (trợ giúp)
  45. Hogg & Batchelor (1976), tr. 27, 33.
  46. ".303-inch Explosive". British Military Small Arms Ammo – Brock. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2016.
  47. ".303-inch Incendiary – Buckingham". British Military Small Arms Ammo. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2016.
  48. Leatherdale, Duncan (ngày 3 tháng 9 năm 2016). "Leefe Robinson: The man who shot down a Baby Killer". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2016.
  49. Simpson, Alan (2015). Air Raids on South-West Essex in the Great War: Looking for Zeppelins at Leyton. Barnsley, South Yorkshire: Pen & Sword Aviation. tr. 52. ISBN 978-1473834125.
  50. Abbott, Patrick (1989). The British Airship at War 1914–1918. Lavenham, Suffolk: Terence Dalton Ltd. tr. 78. ISBN 978-0-86138-073-2.
  51. Grant (2014), tr. 6.
  52. Skennerton (1988), tr. 58.
  53. Skennerton (2001), tr. 46–47.
  54. Skennerton (2001), tr. 7–9.
  55. 1 2 3 Smith (1943), tr. 32
  56. Peter, White (2002). With The Jocks: : A Soldier's Struggle For Europe 1944–45. The History Press. tr. [cần số trang]. ISBN 978-0-7509-3057-4.
  57. Combined Operations Pamphlet No. 17 (PDF) (Báo cáo). tháng 4 năm 1943. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2026.
  58. Lambert, John; Ross, Al (1990). Allied Coastal Forces of World War II: Vol. 1, Fairmile designs and US submarine chasers. Conway Maritime Press. tr. 196–200. ISBN 978-0-85177-519-7.
  59. Chant (2001), tr. 47.
  60. Pawlas, Karl R, biên tập (2000). "Das Lewis-Maschinengewehr". Waffen-Revue (bằng tiếng Đức). Karl R. Pawlas. tr. 33–36.
  61. Smith (1973), tr. 512.
  62. Smith (1943), tr. 131.
  63. Skennerton (2001), tr. 9.
  64. Smith (1973), tr. 270.
  65. 1 2 Grant (2014), tr. 16.
  66. 1 2 "Čs. letecký kulomet vz. L/28" [Czech aircraft machine gun vz. L/28]. vhu.cz (bằng tiếng Séc). Vojenský historický ústav Praha [cs]. ngày 3 tháng 5 năm 2018.
  67. Handboek voor den soldaat. Quyển 1. Breda: Koninklijke Militaire Academie. 1937. tr. 36–49.
  68. Grant (2014), tr. 14-15.
  69. Grant (2014), tr. 17-18.
  70. 1 2 3 Grant (2014), tr. 63.
  71. Grant (2014), tr. 26.
  72. "The Ingenious Devices of Colonel Lewis – The Firearm Blog". thefirearmblog.com. ngày 18 tháng 11 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2018.
  73. Grant (2014), tr. 42.
  74. Windrow, Martin (1997). The Algerian War, 1954–62. Men-at Arms 312. London: Osprey Publishing. tr. 9. ISBN 978-1-85532-658-3.
  75. 1 2 Grant (2014), tr. 39.
  76. Truby, J. David (1988) [1977]. The Lewis Gun (ấn bản thứ 2). Boulder, Colorado: Paladin Press. tr. 195. ISBN 978-0-87364-032-9.
  77. Huon, Jean (tháng 9 năm 2013). "The Chaco War". Small Arms Review. Quyển 17 số 3. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2018.
  78. Grant (2014), tr. 35.
  79. Jowett, Philip (ngày 10 tháng 9 năm 2010). Chinese Warlord Armies 1911–1930. Men-at-Arms 463. Osprey Publishing. tr. 23. ISBN 978-1-84908-402-4.
  80. Shih, Bin (2022). China's Small Arms of the 2nd Sino-Japanese War (1937-1945) (ấn bản thứ 2021). Independently published. tr. 177. ISBN 979-8473557848.
  81. Dale, Ashley (ngày 7 tháng 7 năm 2011). "Arms of the Dominican Republic". Firearms News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2022.
  82. "100 Years of Friendship: UK and Estonia: how it began – Tallinn". ukandestonia.ee. 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018.
  83. Andersons, Edgars (2001). "The military situation in the Baltic States" (PDF). Baltic Defence Review. 2001 (6): 113–153. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2019.
  84. "LIGHT MACHINEGUNS PART 2: Other Light". jaegerplatoon.net. ngày 13 tháng 5 năm 2018.
  85. 1 2 Grant (2014), tr. 44.
  86. 1 2 3 Grant (2014), tr. 65.
  87. Percy Molesworth Syke (1918). "Despatch on Minor Operations in Southern Persia, 7 November 1917 to 31 March 1918". Qatar Digital Library. tr. 8. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026. 79 Lewis guns provided for South Persia Rifles, plus 2 for Headquarter Staff, and 8 each for 16th Rajputs and 124th Baluch Infantry; total 97 Lewis guns.
  88. Lyman, Robert (2006). Iraq 1941: The Battles for Basra, Habbaniya, Fallujah and Baghdad. Campaign. Oxford: Osprey. tr. 26. ISBN 1-84176-991-6.
  89. Moloney, Ed; Mitchell, Bob. "The Bryson Incident and the Provisional IRA". Magill. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2022.
  90. Cork, Garry (ngày 3 tháng 3 năm 2011). "Weapons of the IRA 3rd West Cork Brigade". The Irish War. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2022.
  91. 1 2 3 Grant (2014), tr. 64.
  92. Grant (2014), tr. 16-18.
  93. 1 2 Skennerton (2001), tr. 9
  94. Dambītis 2016, tr. 225.
  95. Thomas, Nigel; Caballero Jurado, Carlos (ngày 25 tháng 1 năm 2002). Germany's Eastern Front Allies (2): Baltic Forces. Men-at-Arms 363. Osprey Publishing. tr. 46–47. ISBN 978-1-84176-193-0.
  96. Dambītis 2016, tr. 73.
  97. Truby, J. David (tháng 8 năm 2011). "Guns of the Mexican Revolution". Small Arms Review. Quyển 14 số 11.
  98. 1 2 Grant (2014), tr. 63-64.
  99. "Lichte mitrailleur Lewis M.20". grebbeberg.nl (bằng tiếng Hà Lan). Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.
  100. "Lewis light machine gun". nzhistory.govt.nz. Ministry for Culture and Heritage. ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  101. Stack, Wayne; O’Sullivan, Barry (ngày 20 tháng 3 năm 2013). The New Zealand Expeditionary Force in World War II. Men-at-Arms 486. Osprey Publishing. tr. 44. ISBN 978-1-78096-111-8.
  102. Bickel, Keith B. (ngày 12 tháng 1 năm 2001). Mars Learning: The Marine Corps' Development Of Small Wars Doctrine, 1915–1940 (ấn bản thứ 1). New York: Routledge. tr. 188. ISBN 978-0-429-96759-7.
  103. Segel, Robert G. (tháng 8 năm 2014). "The Lewis Gun". Small Arms Review. Quyển 18 số 4. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018.
  104. Grant (2014), tr. 76.
  105. România în războiul mondial 1916–1919 (bằng tiếng Romania). Quyển I. Documente-Anexe. București: Monitorul Oficial și Imprimeriile Statului. tr. 56.
  106. de Quesada, Alejandro (ngày 20 tháng 1 năm 2015). The Spanish Civil War 1936–39 (2): Republican Forces. Men-at-Arms 498. Osprey Publishing. tr. 38. ISBN 978-1-78200-785-2.
  107. Chapman, Frederick Spencer (1998) [1936]. "Tibetan Lewis Gun section".
  108. "British Empire/ Colonies and Protectorates" (PDF). Armaments year-book : general and statistical information. Series of League of Nations publications. IX, Disarmament. Quyển A.37.1924.IX. Geneva: Hội Quốc Liên. 1924. tr. 123. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2018.
  109. League of Nations (1924), tr. 126.
  110. League of Nations (1924), tr. 196.
  111. League of Nations (1924), tr. 128.
  112. League of Nations (1924), tr. 181.
  113. Sumner, Ian (ngày 25 tháng 8 năm 2001). The Indian Army 1914–1947. Elite 75. Osprey Publishing. tr. 49. ISBN 9781841761961.
  114. League of Nations (1924), tr. 185 187.
  115. League of Nations (1924), tr. 193.
  116. League of Nations (1924), tr. 177.
  117. League of Nations (1924), tr. 156.
  118. League of Nations (1924), tr. 172.
  119. League of Nations (1924), tr. 173.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • McCleave Easterly, William (1998). The Belgian Rattlesnake: The Lewis Automatic Machine Gun: A Social and Technical Biography of the Gun and Its Inventors. Collector Grade. ISBN 978-0-88935-236-0.